HuuHan.comHữu Hạn
Trách nhiệm hữu hạn nghĩa là gì và che chắn tới đâu

Vợ chồng góp tài sản chung vào công ty TNHH: phần vốn của ai, nhà có bị đụng tới

Dùng tiền, nhà, đất chung của vợ chồng để góp vốn công ty TNHH: phần vốn đứng tên một người vẫn có thể là tài sản chung. Ranh giới trách nhiệm và giấy tờ nên có.

Young couple sitting on a living room floor in a Nha Trang apartment, reviewing a thick folder of blank pages together, evening lamp light, seen from behind at an angle

Khi vợ chồng dùng tài sản chung để góp vốn vào công ty TNHH, tài sản đã góp chuyển thành tài sản của công ty và có thể mất nếu công ty làm ăn thua lỗ; phần tài sản chung còn lại về nguyên tắc không bị kéo vào nợ của công ty. Đây là điểm khác căn bản với hộ kinh doanh, nơi nợ kinh doanh dễ lan sang tài sản chung của gia đình.

Nhưng có một tầng thứ hai ít người để ý: phần vốn góp, dù chỉ đứng tên chồng hoặc vợ trong sổ đăng ký thành viên, nếu hình thành từ tài sản chung thì giữa hai vợ chồng vẫn có thể là tài sản chung. Hiểu đúng hai tầng này giúp gia đình quyết định góp gì, ai đứng tên, và giấy tờ nào nên có ngay từ đầu, theo nguyên tắc của Luật Doanh nghiệp 2020 và Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Tình huống: căn nhà phố của anh Khoa và chị Nhung

Anh Khoa và chị Nhung (ví dụ giả định) có một căn nhà phố ở Nha Trang mua trong thời kỳ hôn nhân, đứng tên cả hai. Anh Khoa muốn lập công ty TNHH một thành viên kinh doanh dịch vụ lưu trú, dùng căn nhà làm cơ sở và đưa nó vào vốn điều lệ. Anh nghĩ đơn giản: nhà của hai vợ chồng, công ty của anh, chị Nhung ký một chữ là xong.

Chữ ký ấy thật ra có ý nghĩa lớn hơn nhiều. Góp căn nhà vào công ty là chuyển quyền sở hữu căn nhà từ hai vợ chồng sang công ty. Từ đó, căn nhà là tài sản của công ty, dùng để trả mọi khoản nợ của công ty nếu công ty thua lỗ. Đổi lại, gia đình có một phần vốn góp đứng tên anh Khoa. Nếu công ty vay ngân hàng và không trả được, ngân hàng có thể xử lý căn nhà như tài sản của công ty mà không cần chị Nhung đồng ý thêm lần nào nữa.

Chị Nhung vì vậy cần hiểu mình đang đổi một căn nhà đứng tên mình lấy một phần quyền lợi gián tiếp qua phần vốn góp của chồng. Quyết định ấy có thể hợp lý về kinh doanh, nhưng phải là quyết định có hiểu biết của cả hai người.

Tầng thứ nhất: giữa gia đình và chủ nợ của công ty

Đối với người bên ngoài, ranh giới được vẽ bằng tư cách pháp nhân. Tài sản đã góp thuộc công ty; phần còn lại thuộc gia đình. Chủ nợ của công ty chỉ đòi được trong phạm vi tài sản công ty, trừ những trường hợp tấm chắn bị thủng như bảo lãnh cá nhân, thế chấp tài sản riêng, chưa góp đủ vốn đã cam kết hay rút vốn trái luật.

Điều này có nghĩa là quyết định "góp cái gì" chính là quyết định "đặt cái gì vào rủi ro". Góp cả căn nhà thì căn nhà nằm trong rủi ro. Góp tiền mặt, giữ căn nhà đứng tên vợ chồng và cho công ty thuê lại, thì căn nhà nằm ngoài; đổi lại công ty phải trả tiền thuê và vốn điều lệ nhỏ hơn. Hai cách này cho cùng một hoạt động kinh doanh nhưng bức tranh rủi ro rất khác nhau.

Cần nói thêm rằng nếu chị Nhung ký thế chấp chính căn nhà chung, vẫn đứng tên vợ chồng, cho khoản vay của công ty, thì căn nhà cũng rơi vào rủi ro, lần này qua đường hợp đồng bảo đảm. Đó là lý do mỗi chữ ký của vợ hoặc chồng trên hồ sơ của công ty đều đáng đọc kỹ.

Tầng thứ hai: giữa hai vợ chồng với nhau

Theo nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân về cơ bản là tài sản chung, trừ khi chứng minh được là tài sản riêng hoặc vợ chồng có thoả thuận khác. Phần vốn góp trong công ty TNHH là một loại tài sản. Nếu phần vốn ấy được tạo ra bằng tài sản chung, thì dù sổ đăng ký thành viên chỉ ghi tên anh Khoa, giữa hai vợ chồng nó vẫn có thể được coi là tài sản chung.

Hệ quả là tư cách thành viên công ty và quyền tài sản trong gia đình tách nhau. Với công ty, anh Khoa là chủ sở hữu, là người biểu quyết, người ký. Với gia đình, chị Nhung có quyền đối với giá trị phần vốn góp đó. Khi anh Khoa muốn chuyển nhượng phần vốn, có tranh luận về việc có cần chị Nhung đồng ý hay không, tuỳ loại tài sản và cách áp dụng hai luật; khi vợ chồng chia tài sản, phần vốn góp là một khoản phải chia, thường là chia giá trị chứ không tự động biến chị Nhung thành thành viên.

Những điểm này dễ thành tranh chấp, nên một văn bản thoả thuận giữa hai vợ chồng ngay lúc góp vốn có giá trị lớn: ghi rõ tài sản chung nào được dùng, ai đứng tên, quyền định đoạt phần vốn về sau ra sao. Nội dung cụ thể nên hỏi luật sư hoặc công chứng viên.

Khi một bên góp bằng tài sản riêng

Không phải lúc nào vốn góp cũng đến từ tài sản chung. Chị Nhung có thể có một khoản tiền được thừa kế riêng, hoặc một mảnh đất có từ trước khi kết hôn. Theo nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản được hình thành từ tài sản riêng thì vẫn là tài sản riêng, nên phần vốn góp bằng tài sản riêng có thể được xác định là tài sản riêng của người góp, nếu chứng minh được nguồn gốc.

Chi tiết đáng chú ý là phần lợi nhuận được chia từ phần vốn đó trong thời kỳ hôn nhân. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc là tài sản chung, trừ khi vợ chồng có thoả thuận khác. Nghĩa là phần vốn có thể là của riêng chị Nhung, nhưng tiền lợi nhuận hằng năm chị nhận về lại có thể là của chung.

Muốn giữ phần vốn là tài sản riêng một cách chắc chắn, người góp cần giữ chứng từ nguồn gốc: giấy tờ thừa kế, sao kê chuyển tiền từ tài khoản riêng thẳng vào tài khoản công ty, không qua tài khoản chung. Khi đã trộn tiền riêng và tiền chung trước khi góp, việc chứng minh trở nên rất khó.

Ba cách sắp xếp thường gặp và hệ quả

Ví dụ giả định với cùng một khoản tài sản chung muốn đưa vào kinh doanh. Bảng chỉ nêu hệ quả theo nguyên lý; cách làm phù hợp với gia đình bạn cần được tư vấn cụ thể.

Cách sắp xếpVới chủ nợ của công tyGiữa hai vợ chồng
Một người đứng tên chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, góp bằng tài sản chungTài sản đã góp nằm trong rủi ro, phần còn lại ngoàiPhần vốn có thể vẫn là tài sản chung; người không đứng tên ít quyền trong công ty
Cả hai cùng là thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lênNhư trênMỗi người có quyền thành viên, biểu quyết, xem sổ sách theo phần vốn của mình
Không góp tài sản lớn, cho công ty thuê tài sảnTài sản cho thuê nằm ngoài rủi ro của công ty (nếu không thế chấp)Tài sản vẫn đứng tên vợ chồng; thu nhập cho thuê có hệ quả thuế riêng

Cách thứ ba thường bị bỏ qua vì vốn điều lệ trông nhỏ. Nhưng với những tài sản như nhà ở của gia đình, giữ chúng ngoài công ty và cho thuê có hợp đồng là cách giới hạn rủi ro rất rõ. Hệ quả thuế của việc cho thuê nên hỏi kế toán trước.

Giấy tờ nên có khi góp vốn bằng tài sản chung

Dù chọn cách nào, những giấy tờ sau giúp cả hai tầng ranh giới được rõ, khi có chuyện với chủ nợ cũng như khi có chuyện trong gia đình:

  • Văn bản thoả thuận của vợ chồng về việc dùng tài sản chung để góp vốn, ghi rõ tài sản, giá trị, người đứng tên phần vốn; với bất động sản và tài sản phải đăng ký, đây gần như là điều kiện bắt buộc theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  • Biên bản định giá tài sản góp vốn và hồ sơ chuyển quyền sở hữu sang công ty, như hợp đồng, đăng ký sang tên.
  • Giấy chứng nhận phần vốn góp, sổ đăng ký thành viên ghi đúng giá trị, ngày góp.
  • Nếu cho công ty thuê tài sản thay vì góp: hợp đồng thuê có giá, thời hạn, và chứng từ thanh toán qua tài khoản.
  • Bản sao các hợp đồng thế chấp, bảo lãnh mà vợ hoặc chồng đã ký cho công ty, lưu ở nơi cả hai cùng biết.

Việc lưu giấy tờ có vẻ thủ tục, nhưng trong tranh chấp, đó là thứ quyết định ai được bảo vệ.

Những điều không nên làm

Chia tài sản chung để né nợ. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 cho phép chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng việc chia nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản có thể bị tuyên vô hiệu. Chia khi công ty đã nợ nặng là việc gần như chắc bị đặt câu hỏi.

Để một người ký mọi thứ mà người kia không biết. Ngay cả khi luật không đòi chữ ký của cả hai cho một giao dịch cụ thể, việc một bên đem tài sản chung vào rủi ro mà không bàn bạc là nguồn gốc của tranh chấp gia đình, và đôi khi làm giao dịch bị xem xét lại.

Ghi phần vốn đứng tên người khác cho "an toàn". Nhờ anh chị em đứng tên phần vốn được góp bằng tài sản của vợ chồng là tự tạo rủi ro mất tài sản, vì về hồ sơ người đứng tên là thành viên.

Góp vốn bằng tài sản đang thế chấp. Tài sản đang bảo đảm cho khoản vay khác không thể tự do chuyển quyền sở hữu; cần giải chấp hoặc có đồng ý của bên nhận bảo đảm. Bỏ qua bước này dễ dẫn đến góp vốn không hợp lệ.

Câu hỏi thường gặp

Chồng đứng tên chủ công ty TNHH một thành viên thì vợ có quyền gì trong công ty?

Với công ty, người đứng tên là chủ sở hữu và có quyền quyết định. Vợ không tự động có quyền điều hành. Tuy nhiên nếu phần vốn hình thành từ tài sản chung, giữa hai vợ chồng vợ vẫn có quyền đối với giá trị phần vốn đó theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Công ty phá sản thì phần tài sản chung chưa góp có bị ảnh hưởng không?

Về nguyên tắc không, nếu vợ chồng không bảo lãnh, không thế chấp tài sản đó cho nợ công ty và đã góp đủ phần vốn cam kết. Tài sản đã góp vào công ty thì có thể mất. Cần hỏi luật sư khi vụ việc cụ thể đã phát sinh.

Có cần công chứng thoả thuận vợ chồng về góp vốn không?

Tuỳ loại tài sản và yêu cầu của thủ tục chuyển quyền sở hữu. Với bất động sản, các giao dịch liên quan thường cần công chứng. Ngay cả khi không bắt buộc, văn bản rõ ràng vẫn có giá trị chứng minh. Hỏi công chứng viên hoặc luật sư.

Ly hôn thì phần vốn góp trong công ty TNHH chia thế nào?

Phần vốn hình thành từ tài sản chung là tài sản phải chia. Thường các bên thoả thuận một người giữ phần vốn và thanh toán giá trị cho người kia; việc người kia trở thành thành viên còn phụ thuộc điều lệ và quy định về chuyển nhượng. Nên có luật sư cho vụ việc cụ thể.

Dùng tiền tiết kiệm chung góp vốn thì có cần vợ hoặc chồng ký không?

Tiền tiết kiệm chung là tài sản chung; việc dùng vào kinh doanh nên có sự thống nhất của cả hai. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đòi thoả thuận bằng văn bản với một số loại tài sản và giao dịch nhất định. Dù không bắt buộc, có văn bản vẫn an toàn hơn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Cần người lo thủ tục thành lập công ty?

Cho biết bạn định lập công ty TNHH một thành viên, hai thành viên hay chưa chọn loại hình, ở tỉnh nào, ngành gì và có mấy người góp vốn. Hữu Hạn đọc nhu cầu và liên hệ lại để giới thiệu đơn vị làm hồ sơ thành lập, kế toán ban đầu phù hợp.

hoặc
Gọi ngay 0926 138 138